Theo y học cổ truyền, hạt tiêu có vị cay, đắng, nóng và
nhiệt có độc, đi vào bốn kinh tỳ, vị, phế và đại tràng; có tác dụng giải độc,
ôn trung, hạ khí, trị cảm hàn, tiêu đờm, trị chứng đầy bụng, đau vòng tim...
Trị bệnh đau dạ dày:
7 hạt tiêu sọ, 7 quả táo tầu (thuốc bắc) đã bỏ hạt; mỗi quả táo tầu bỏ một hạt
tiêu sọ vào trong buộc lại, chưng cách thủy 7 lần, xong nghiền nát tất cả, hoàn
viên bằng hạt đỗ xanh. Uống ngày 7-10 viên với nước đun sôi để ấm hoặc nấu cháo
ăn.
Trị chứng lạnh bụng,
nôn ói: 12g hạt tiêu, 1lít rượu 40 độ; ngâm hạt tiêu trong rượu, uống 2
lần/ngày trước bữa ăn, mỗi lần một chén nhỏ.
Trị chứng tê thấp:
dùng hạt tiêu đen, phèn chua, hồi, ngâm với rượu xoa bóp chữa tê thấp.
Trị đau răng, sâu
răng: hạt tiêu đen nghiền thành bột mịn xát vào chân răng.
Trị chứng sốt rét:
sốt một ngày hoặc sốt cách nhật: hạt tiêu nghiền bột, thuyền thoái (xác ve sầu)
nghiền bột, mỗi thứ để vào một lọ, bảo quản tốt để dùng dần. Lấy mỗi thứ 2-3g
trộn đều rồi gói vào tờ giấy kín, sau khoảng 2-4 giờ thì bóc ra uống với nước
đun sôi để ấm.
Trị viêm thận:
lấy 7 hạt tiêu, 1 quả trứng gà. Chọc một lỗ nhỏ ở quả trứng rồi nhét hạt tiêu
vào. Dùng bột mì bịt kín lỗ thủng. Bọc quả trứng vào trong một tờ giấy ướt rồi
đem cách thủy. Cứ 3 ngày ăn một lần. Ăn liên tục 10 ngày. Người lớn ăn một ngày
2 quả, trẻ em ăn ngày 1 quả.